10 thg 10, 2007

Làm việc với người ngoại quốc


Ngày 7.10.2007 vừa qua CLBKHKT đã nói chuyện về kỷ năng hội nhập văn hóa. Blog kỳ này đăng bản tường trình buổi nói chuyện kéo dài 11 giờ đến 13 giờ 30. Nội dung tập trung vào các sinh hoạt bình đẳng. Khía cạnh xuất cảng lao động (XCLĐ) không được đề cập đến. Mong mọi người khi bàn về "Làm việc với người ngoại quốc " cũng không quên XCLĐ.

Sau đây là nguyên bản của bài tường trình của chị Phạm ngọc Thúy.

Tổng kết buổi thảo luận Paltalk ngày 07.10.2008

Đề tài 1
Làm việc với ngoại quốc - Những điều cần biết


Vào ngày 07.10.2007 vừa qua buổi thuyết trình và thảo luận qua Paltalk đã diễn tiến rất sôi nỗi với sự tham dự tích cực của các anh chị đi từ Việt Nam, Đức và Thuỵ sĩ. Sau phần thuyết trình của chị Phạm Ngọc Thuý là phần trao đổi thảo luận. Các ý chính của cuộc thảo luận được tóm tắt ở đây:

1) Khi làm việc với ngoại quốc thường bị va chạm nhiều, nhất là khi người VN làm việc với người Tây Phương. Với ngưòi Á châu như Nhật bản, Đại Hàn v.v. có ít vấn đề hơn. Điều này có thể được giải thích là người Á Châu có những đặc tính văn hoá khá giống nhau nên khi làm việc chung ít bị hiểu lầm hơn.

2) Trong số người Tây Phuơng khi làm việc với VN có người hay tỏ ra kiêu hãnh và biểu hiện thái độ cho thấy là người VN có trình độ kém hơn họ. Điều này đưa đến rất nhiều bực dọc, kích xúc cho người VN. Những thái độ tự cao này hoàn toàn không thích hợp với môi truờng làm việc đa quốc gia và thường đưa đến thất bại trong công việc. Nhiều công ty lớn ngày nay lựa chọn nhân viên có tính xã hội, không kiêu hãnh để làm việc trong môi trường đa quốc gia và huấn luyện cho họ kỹ năng hổ tương văn hoá.

3) Tinh thần làm việc toàn cầu hoá là tinh thần hội nhập hai chiều. Dân tộc nào cũng tự hào, nhưng mỗi người nên tự xét và tìm đâu là khuyết điểm của mình để sửa đổi và học hỏi thêm. Với tinh thần cầu tiến ta có thể vượt qua dân tộc tính để rèn luyện cho mình kỹ năng làm việc có hiệu quả trong môi trường đa văn hoá. Ngưòi Tây phương cũng như người Đông phương đều phải học hỏi để có kỹ năng này vì tất cả đều cần sự thành công khi làm việc trong môi trường đa quốc gia.

4) Trong quá trình làm việc với con người đa quốc gia ta không nên có thành kiến hoặc „quơ đủa cả nắm“. Con người của nước nào ở đâu cũng có những ưu và khuyết điểm. Đây là một quá trình học hỏi lâu dài qua ý thức và tìm hiểu.

5) Bài thuyêt trình và buổi thảo luận về đề tài này rất thực tiễn, cần thiết và bổ ích. Cần triển khai đề tài này ra nhiều phần để trình bày và thảo luận qua Paltalk..









Đề tài 2:

Phát triển trang Web CLBkhkt và sinh hoạt Paltalk

1) Trang Web CLB KHKT cần liên kết với các trang Web khác trong lãnh vực KHKT, đặc biệt với các hội đoàn, tổ chức, cơ quan, cơ sở giáo dục tại VN. Xin liên hệ với chúng tôi.

2) CLBkhkt rất hoan nghênh khi các đọc giả giới thiệu rộng rãi trang này cho nhiều người biết đ ến, hoặc trực tiếp hoạc qua E Mail cho bạn bè, người quen, môi trường học tập và làm việc v.v…

3) Các đề tài qua Paltalk được lựa chọn với nội dung có tính thời sự, cần thiết và quan trọng cho nhiều người để chúng ta cùng nhau học hỏi, giúp đở lẫn nhau cùng tiến bộ. Mong rằng các đọc giả và thính giả đóng góp ý kiến dồi dào, đê nghị đề tài thiết thực và đặt nhiều câu hỏi để chúng ta cùng nhau thảo luận.



Bá Linh, 09.10.2007
Thuy Pham Ngoc.

1 thg 10, 2007

Kim chỉ nam: Nhu cầu mỗi người


Từ thưở nhỏ tôi đã nghe qua tên ông Maslow. Là 1 nhà tâm lý học Mỹ ông Abraham Maslow (1908-1970) đã đề xuất ra tháp nhu cầu để cắt nghĩa động cơ sinh hoạt của con người. Chủ yếu là con người có nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi các nhu cầu của 1 cấp được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa, và các nhu cầu của cấp cao hơn sẽ trở thành động cơ thúc đẩy. Các nhu cầu, từ "thấp" đến "cao":
Nhu cầu sinh lý | An toàn | Xã hội | Được tôn trọng | Tự hoàn thiện

Học thuyết Maslow được áp dụng trong rất nhiều lãnh vực, từ bán hàng, qua quản trị xí nghiệp cho đến kinh tế quốc dân. Ít khi có ai đặt câu hỏi, tại sao các loại nhu cầu lại có thứ cấp, và cái thứ tự từ thấp đến cao có phải là bất di bất dịch không?

Manfred Max-Neef (*1932), 1 nhà kinh tế và sinh thái học Chí lợi, cho rằng chỉ có nhu cầu sinh tồn là cần thiết cho tất cả mọi người, còn mọi nhu cầu khác không thể xếp theo một thứ tự nào cả. Hai tầm nhìn phản ánh hai nhận thức đối ngược, với những ảnh hưởng to lớn cho từng nước, từng cộng đồng, từng cá nhân.

Khẳng định thứ cấp cho các nhu cầu là biểu lộ của suy nghĩ "hoặc có, hoặc không - một là bạn, hai là thù - hoặc thắng hay thua ....", xem rằng sinh hoạt phải dựa vào tháp nhu cầu. Người ta có thể hiểu mình và người khác qua thang nhu cầu, và tổ chức sinh hoạt từ cơ sở tháp nhu cầu. Trong khung cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các công ty trong cũng như ngoài nước đều trả lương cho nhân công, nhân viên với giá thấp như có thể, vì họ cho rằng - ngoài lý do thuần kinh tế - nhu cầu an toàn, có việc làm bảo đảm, là động cơ của công nhân viên. Việc tạo điều kiện để các người làm sinh hoạt theo nhóm, trao đổi ý kiến, có dịp chơi chung vào những ngày nghỉ, chỉ được dự kiến đến cho những công nhân viên có thu nhập cao hơn .... Ở bình diện quốc gia, thì nước nghèo lại chạy theo cung ứng các nhu cầu vật chất, hay đúng hơn là những thoả mãn vật chất (Max-Neef phân biệt giữa needs và satisfiers), và bỏ quên những nhu cầu thiết yếu khác.

Mọi nhu cầu - ngoại trừ nhu cầu sinh tồn - quan trọng ngang nhau, bổ túc cho nhau hay thay thế nhau, đó là nhận thức của Max-Neef. Các nhu cầu
che chở | cảm xúc | thông hiểu | tham gia | giải trí | sáng tạo | cá tính | tự do đều có 4 chiều riêng: hiện hữu | sở hữu | hành động | tương tác. Cá nhân, cộng đồng hay quốc gia, tùy hoàn cảnh, tập trung vào 1 số điểm cùa ma trận nhu cầu. Tầm nhìn này phản ánh sự chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của cá nhân, cộng đồng hay quốc gia khác. Nó nói lên tinh thần "Có và không - không phân biệt bạn, thù - không bắt buộc thắng và thua".

Với khám phá về những nhu cầu của chính mình, phân biệt được đâu là nhu cầu, đâu là phương tiện thỏa mãn, và cảm được các cuộc sống khác biệt, thì kim chỉ nam sẽ có, giúp mình đến đích mau hơn.

Blog "Right energies for right stuffs" có nhắc đến năng lượng A và B, C, D và E. A và B tương ứng với hiện hữu, C với sở hữu, D với hành động, và E với tương tác.

21 thg 9, 2007

Tiết kiệm 50% năng lượng cho "máy lạnh", "điều hòa không khí"


[Please click on the graphic to enlarge it]
Ở VN có nhiều nhà, mới và cũ, có mặt tiền đẹp. Song kế bên đó lại có vô số cục "máy lạnh", "điều hòa không khí" bám vào mặt tiền, xem như quần áo ... dính bùn. Các thiết bị này chủ yếu là luân lưu không khí trong phòng, lấy nhiệt đi nhờ bộ phận bốc hơi (evaporator) của máy làm lạnh (refrigeration machine), chứ không điều chỉnh độ ẩm, mà thường là giảm độ ẩm. Với đà "hội nhập" thế giới càng có nhiều nhà có gắn máy lạnh: cao ốc căn hộ, văn phòng, cửa hàng ... đâu đâu cũng có máy lạnh: 1 cục có, 2 cục cũng có; ý muốn nói đến compact hay split air conditioner.

Với tinh thần "càng lạnh càng sang" chủ nhân dùng máy lạnh thưòng điều chỉnh nhiệt độ trong phòng ở mức 20 ... 22°C, trong khi ngoài trời, trong bóng mát lên đến 32 ... 34°C. Ai mà đi ngoài nắng thì có cảm giác nhiệt độ cao hơn nữa! Ngay cả ở Âu Mỹ, con người vốn chịu nóng kém hơn mình, vào mùa hè, các phòng ốc được điều chỉnh ở mức 28°C khi ngoài trời nóng 32°C. Khoảng cách nhiệt độ này có 2 lợi ích: sức khỏe (không dễ bị cảm, vì thay đổi nhiệt độ đột ngột qúa lớn) và tài chính (máy lạnh chạy ít hơn vì không phải giảm nhiệt độ trong phòng qúa nhiều).
Vì phòng phải có nhiệt độ thấp nên các nhà bán máy lạnh chỉ có loại máy với công xuất điện trên 1 ngựa = HP (Horse Power). Bình quân, 1 máy với công xuất 1 kW = 1,34 HP, có thể chuyển 2kW nhiệt ra khỏi phòng. Câu hỏi bây giờ là khi phải làm mát phòng mình phỏng chừng các nguồn nhiệt (gánh nặng mát) được không? Muốn chính xác thì phải tính chi tiết, song mỗi người có thể phỏng chừng hợp lý để chọn máy lạnh không qúa kích.

Gánh nặng mát lớn nhất là ánh nắng, khi phòng có kính. Bức xạ mặt trời bất biến (Solar constant) là 1367 W/m2, tức là công xuất bức xạ trên 1 thước vuông nhận nhiệt. Khi vào khí quyển công xuất này giảm đi vì mây, bụi, khí ... và chỉ còn khoảng 1000 W/m2. Tình bình quân ở VN mình có thể lấy 700 W/m2 như gánh nặng mát phỏng chừng. Nếu trước cửa kính có che nắng (shading) thì ánh nắng sẽ giảm nữa, có thể chỉ còn 200 ... 300 W/m2.
Kế đến là những nguồn nhiệt trong nhà như con người, máy sử dụng, đèn chiếu. 1 người trung bình phát ra 100 W, máy tính thì từ 50 đến 150 W, đèn chiếu thì từ 15 W đến gần 100 W 1 bóng.
Và trao đổi không khí giữa phòng và bên ngoài từ các khe hở cũng sẽ là gánh nặng mát lớn, nếu khác biệt nhiệt độ quá lớn (phòng 20°C, ngoài trời 34°C).
Các gánh nặng mát khác như truyền nhiệt qua tường .. không đáng kề.

Cho 1 phòng 25 m2, cao 4 m, có 4 m2 kính, có che nắng, có 4 người sinh hoạt, với 4 máy tính, 1 máy in, 1 scanner, có đèn néon, và cần 26°C khi ngoài trời 34°C, thì phải chuyển nhiệt tối đa khoảng 2200 W, tức là cần công xuất điện khoảng 1100 W = 1,5 HP.
Với cách đặt cục máy lạnh hiện nay thì nhà bán máy sẽ không ngần ngại đề nghị 1 máy 3 HP, cho chắc ăn !!! Theo cách đặt này thì toàn bộ không khí trong phòng được "trộn đều" và hơi nóng từ mặt trời, con người trong phòng, máy, đèn 100% làm tăng nhiệt độ trong phòng, do đó phải được chuyển hết ra ngoài. Ngược lại, nếu cục máy lạnh được đặt ở mức sàn nhà, có thêm thiết bị để phân phối (outlet device) chậm và đều gió mát, và có lưới thoát không khí trên cao, thì xem như mình chỉ cần giữ 26°C cho đến chiều cao 2 m thôi (thay vì 4 m), hơi nóng của người và máy chỉ tác dùng 1 phần thôi vì được liền ra khỏi phòng.
Tất cả các yếu tố vừa kể có thể giảm yêu cầu làm mát đến 50%.

Tuy không có thống kê chính xác, song với phỏng đoán là VN có khoảng 1 000 000 cục máy lạnh (theo báo SGGP, năm 2006 số lượng bán cục máy lạnh là 300 000), với công xuất bình quân là 1 kW, thì nếu thực hiện thông gió qua đẩy luồng (Displacement Ventilation) thì sẽ tiết kiệm được 1 công xuất là 500 MW trong khung cảnh của công xuất điện cả nước là 13000 MW !!!

Cách sử dụng các cục máy lạnh chỉ là 1 trong nhiều trường hợp để VN tiết kiệm năng lượng, hội nhập 1 cách thông minh, và thực hiện thật sự "học và hành".

20 thg 9, 2007

Ống nghe y học thế kỷ 21


15 000 bác sĩ, chuyên viên nghiên cứu, nhà vật lý trị liệu, người làm Y và Dược trong công nghiệp đã tham gia hội nghị của Hội Hô Hấp Âu Châu (ERS = European Respiratory Society) được tổ chức từ 15 - 19.09.2007 tại Stockholm.
Bài trình bày của 2 ông Neil Skjodt và Billy Hodgetts, đại học Alberta, Gia nã đại, có tiếng vang lớn.
Mai đây, máy nghe MP3 cải tiến sẽ được dùng để nghe hơi thở của bệnh nhân, thay thế các ống nghe y học cổ điển đã có từ trên 200 năm nay. Khi chưa có ống nghe y học (stethoscope) thì khi chẩn bệnh bác sĩ phải ghé tai lên ngực bệnh nhân để nghe hơi thở trong lồng ngực.
Để dễ nhớ sản phẩm này tôi đề nghị cho nó cái tên "sPhone" với "s" là mẫu tự đầu của chữ "stetho" = ngực, tương tự với iPhone của hãng Apple. sPhone là stethoscope hoá số.
Mình nêu ra các ưu điểm của ống nghe y học sPhone trước, rồi sau đó bình luận từ 1 tầm nhìn rộng hơn.
[] sPhone sẽ là 1 phương tiện hổ trợ hữu hiệu cho các nhà y khoa, vì có thống kê cho biết là nhiều dân y khoa không nghe giỏi qua stethoscope.
[] Âm thanh của hơi thở được thâu dưới dạng MP3, được lưu trữ trên ổ cứng, có thể nghe lại nhiều lần, sắp xếp trong 1 cơ sở dữ liệu, gởi đi cho các chuyên gia để chẩn bệnh chính xác hơn, lưu trữ để so sánh ...
[] Giá thành của sPhone sẽ dưới $100,-- trong khi ống nghe y học oổ điển có giá từ $200,-- trở đi.
[] Âm thanh thâu vào rất rõ ràng, giúp người chẩn bệnh dễ xác định triệu chứng.
[] sPhone gọn hơn ống nghe cổ điển.
[] sPhone có thể thâu trực tiếp hơi thở, sau đó chuyển tiếp đến chuyên gia khác, nếu cần.
Tóm lại, các ưu điểm làm nổi bật sự lợi ích và hấp dẫn của sPhone.

Ngày nay chúng ta có rất nhiều phương tiện hiện đại trong việc làm, giải trí và sinh hoạt. Chúng ta đã có phản ứng ra sao?
Nếu mình đơn giản hoá toàn bộ phản ứng bằng mô hình:
Input (tất cả các thông tin, cơ hội, công việc mà mỗi cá nhân gặp) --> Processing (các xử lý thông tin, cơ hội, công việc mà mỗi cá nhân thực hiện) --> Output (mọi biểu lộ đối với thế giới chung quanh), gọi tắt là IPO, thì mình sẽ thấy 1 sự mất cân bằng của IPO.
I thì quá nhiều.
P thì quá ít, vì "không có thời giờ", vì "không hứng", vì "nghĩ là thiếu khả năng", vì "đầu mình trống không" ....
O thì thường là phản xạ (reflexes).

Như vậy có cách nào lấy lại cân bằng cho IPO không?
Viết bài, thực hiện các sản phẩm đa phương tiện trên mạng để nâng cấp truyền thông, là 1 trong nhiều cách tích cực để lấy lại cân bằng cho diễn tiến Input --> Procesing --> Output, tức là Nhập dữ liệu --> Xử lý --> Xuất nội dung trong thời đại số hiện nay.
Trong mọi lãnh vực chúng ta có thể tích cực phổ biến hiểu biết, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, khách hàng, bạn bè, người thân. Qua đó sẽ có cân bằng IPO, và hơn thế nữa, đó cũng là 1 cách tích luỹ hiểu biết, kinh nghiệm và nâng cao trình độ. Chỉ tiêu để đánh giá thành công của diễn tiến này là sự đơn giản, dễ hiểu và hấp dẫn của Trình Bày = Xuất Nội Dung.

Với nhận thức này, tôi rất vui chờ ngày ra mắt của sPhone. Tôi sẽ mua sPhone, tập nghe hơi thở của mình, người thân, người quen .... để biết thêm một chút về con người.

18 thg 9, 2007

Right Energies for your right stuffs


Vera F. Birkenbihl là một phụ nữ thành công trong lãnh vực hướng dẫn học, sử sự, phát triển con người. Tôi có nghe một bài trình bày về "Quĩ Năng Lượng của mỗi người". Biết được phản ứng của mình trong cuộc sống cũng là bí quyết của thành công, tức là sự thanh thản cho chính mình.
Nếu mình coi toàn bộ năng lượng của mỗi người tương đương với diện tích hình chữ nhật màu đỏ, thì mình có năm loại năng lượng:
A: Năng lượng dùng để bảo đảm các sinh hoạt tự động. Khi đói thì mình bỏ sức ra tìm ăn. Khi lạnh thì mình đi tìm áo quần ấm ...
B: Năng lượng dùng để bảo đảm sự tự trọng của mình. Mình muốn người khác tôn trọng mình. Nếu bị chê bai, hay không được chú ý, thì mình khó chịu hay tìm đủ cách để có được tôn trọng, chú ý. Hay là mình khó chịu khi có ai làm khác ý mình. Qua đó cũng tiêu pha nhiều năng lượng B ....
C: Năng lượng dùng cho nhận thức của mình về thời gian. Tiếng Hy Lạp có hai chữ để chỉ thời gian. Chronos (Χρόνος) là thời gian đường thẳng, có quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu mình có tiếc nuối quá khứ hay mơ tưởng tương lai, thì mình phải bỏ năng lượng để hình dung và tùy trường hợp, vui buồn trong một thế giới ngoài hiện tại. Kairos (καιρός) là thời điểm đúng, như là trời định, hiểu theo nghĩa "bây giờ và tại đây", thì ít phải tiêu pha năng lượng C ...
D: Năng lượng dùng để hòan thành những gì mình định làm. Càng có nhiều năng lượng D thì mình càng làm được nhiều việc ....
E: Năng lượng dùng để mở mang kiến thức, thâu thập kinh nghiệm mới, phát triển con người. Nếu mình ít cần A, B hay C thì sẽ có đủ D và E để thành công, hạnh phúc.

Trong thực tế, nếu bạn dùng quá nhiều A, B và C rồi, vì thân thể không thoải mái, vì dễ giận, hay ganh, cũng như thường xuyên hối tiếc và mơ tưởng, thì bạn làm được quá ít việc, không thấy tiến bộ, để rồi buồn giận. Đó là cái vòng luẩn quẩn thường tình.
Ngược lại, nếu mình giới hạn tối đa A, B và C, thì mọi việc dễ xuông xẻ.

Blog cho mọi người